Cho
tôi và những người tôi đã yêu.
"Lòng tôi có đôi lần khép cửa, rồi bên vết thương tôi quỳ..." (TCS)
Có những thời điểm mà việc diễn tả nỗi bàng hoàng
hay trầm ngâm trong lòng bằng ngôn ngữ không khác gì chơi một trò chơi đi ngược,
càng dấn bước, càng xa cột mốc ban đầu. Trên thế gian này, ngọn gió nào đang thổi
và cánh bướm nào đang bay, để hôm nay chao động qua lòng tôi, qua những mong
manh của thân phận như tiếng định mệnh vọng về từ cõi vô minh đâu đó.
Chúng ta là những kẻ thường bị hấp lực của nỗi đau dẫn
dụ. Liệu dấu chấm chứ không phải dấu hỏi của câu đó có làm nó trở nên vô vọng không,
một sự vô vọng ngoài vòng cứu rỗi. Riêng điều ấy tôi không biết chắc, vì chưa
ai trong chúng ta có cơ may đi trọn một vòng của kiếp người để bình tâm mà kể lại.
Chỉ là, tôi tin, sự vô vọng hay hy vọng không phải là yếu tính để tri nhận về
tình trạng tồn tại của một vấn đề, hay một hiện thức. Bởi, nói cho cùng, cả tuyệt
vọng hay kỳ vọng đều là cảm quan bên ngoài khi đánh giá nguy cơ hoặc tiềm năng
của hiện tượng, chứ không là điều kiện cốt lõi để tìm ra bản chất hiện tượng. Muốn
thấy chân như, phải tìm về tự tính, muốn biết tự tính, không gì hơn là hiểu bản
mệnh.
Đôi khi tôi tin tình yêu có quyền năng cứu rỗi trạng
thái vong thân thường hằng của thân phận, có sứ mệnh dẫn dắt những giác quan yếu
mềm đến vùng địa đàng đã mất của thượng đế. Nhưng, sá gì tôi nhân danh nỗi cô
đơn vẫn vương mang đâu đó trên địa hạt của kiếp người, thì sự mất mát của một địa
đàng trong trí tưởng là vĩnh viễn không phục hồi nổi. “Hoàng hạc nhất khứ bất
phục phản” (TH). Những kẻ cực đoan đáng yêu của hiện sinh chủ nghĩa cho rằng,
con người từ thuở ấu thơ đã luôn mang một nỗi buồn lưu đày nơi trần thế, khi miền
thiên đường trong giấc mộng thủy tổ đã bị thượng đế tước đoạt từ nguyên tội ban
sơ của trái cấm. Do đó mà vẻ dịu dàng hay khốc liệt của sự cô đơn kia cứ bảng lảng
mãi đâu đây, như “miếng băng không tan nơi vách trái tim”, dù hơi ấm có tràn qua
ôm ấp sinh thể đó. Chúng ta đi tìm một nửa, đi tìm lý tưởng và niềm tin, cũng
là đang tìm những mối dây buộc mình lại với cuộc đời để cái chênh chao khỏi đổ
vỡ. Không có tự do nào, trong đời này, mà không nằm trong vòng tròn phức hợp của
những quy ước, luật chơi và giới hạn. Điều khả dĩ để hành động tự do, là hãy hiểu
bản mệnh của mình trong thế giới, hiểu bản nhiên của đời sống và dùng cả ý chí
lẫn trực cảm để thực hiện cho được một lựa chọn.
Nỗi buồn vẫn nằm đìu hiu đâu đó trên vùng lạnh sau
gáy chúng ta, nó chỉ đổi màu theo năm tháng, hoặc bạc thếch đi, hoặc lộng lẫy
hơn, ai biết được. Điều đáng nói là, nỗi buồn cũng là một thứ đam mê, một thứ
truyền đời. Nó nằm sâu trong bảng mã của từng thân phận, để mỗi người dùng những
chất liệu riêng có mà giải ra thành các năng lượng khác nhau. Có kẻ thấy được mặt
trời, cũng không ít người nhìn ra vực thẳm. Có kẻ sáng tạo trong cơn đau, nhưng
cũng thiếu gì ai chết chìm với nó. Có kẻ vượt qua nó bằng lý trí để đi tìm hạnh
phúc, có người chung sống với nó và gọi niềm bi ai ấy là cái đẹp. Ta và người,
nói chung, cũng đang bước trên con đường đầy gai và hoa hồng như thế thôi.
Đỉnh cao càng chói lọi, vực thẳm càng âm u. Niềm tin
là thứ giữ con người đi giữa lằn ranh của hai dạng cực đoan ấy, để đạt tới trạng
thái cân bằng. Ai có cân bằng tức là đã nắm được chiếc phao bình an trên dòng
sông số kiếp, dù nói cho cùng, cân bằng cũng chỉ là một hiện thức phù du, một
khoảnh khắc nổi trôi của sự chênh chao muôn thuở. Bởi thế mà trạng thái bình
yên là khát vọng ngàn đời nhân loại không nguôi tìm kiếm, càng thiếu thốn thì
càng khắc khoải, bằng cách này hay cách khác, thông qua tôn giáo, lý trí, tình
yêu, nghệ thuật, hoặc cả cái chết.
Chỉ là với chúng ta, cảm giác về niềm tin, trong một
số trường hợp, lại tràn trề sương khói. Sự nhạy cảm mà thượng đế ban cho những
linh hồn đa đoan ấy, là món quà nhiễm độc. Chúng ta nhạy cảm với ánh sáng lẫn
bóng tối, với hạnh phúc lẫn bất hạnh. Con người này ngập lòng trong hy vọng và không
khỏi dễ dàng thất vọng. Vì thực sự, mọi niềm bi ai hay thương tổn đều gắn liền
với tấm lòng thiết tha say mê quá đỗi với đời sống này. Mọi đam mê, dù là đam
mê nghệ thuật, đam mê tình yêu hay đam mê nỗi buồn, ở dạng thức cao nhất, đều gần
với sự im lặng, với vô vọng.
“Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng
cũng đẹp như một bông hoa.” (TCS) Chúng ta dành nhiều năm của tuổi thanh xuân để xa
xước cùng một nỗi đau, trăn trở cùng một mối tình, triết lý về những tổ hợp
siêu hình như những đứa trẻ và bông đùa về sự dại dột như những kẻ già nua. Tôi
thương nhớ và yêu thiết tha những phản ứng ấy, dù nó vô thường và mong manh, vì
nó đã hàm chứa một nỗ lực để sống và lựa chọn, để giữ bản thân ở một khoảng
cách nhất định giữa sự hy vọng và tuyệt vọng, để không bị bất cứ thái cực nào
cuốn hút vào, nhất là niềm bi ai vô độ.
Tất nhiên, đấy còn và mãi còn là một nỗ lực, để những
kẻ như chúng ta phải rèn luyện vào mỗi sát na của cuộc đời, để tìm thấy trong
lòng yêu sự sống vô vọng kia một niềm vui nào đó giữ cho đời người khỏi giấc ngủ
miên viễn chưa kịp tới. Sống mà không ươm được niềm vui nào, thì hãy ngủ dài
lâu. Nhưng tiếc là, ngủ cũng chưa chắc có gì mới mẻ hơn tiếp tục sống cho trọn
phần số của mình. Vậy thôi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét